Hạnh phúc muộn

(VNBĐ – Truyện ngắn). Hằng giật mình tỉnh giấc bởi âm thanh kẽo kẹt của cơn gió lùa qua cửa sổ. Bên ngoài là mảng đen hun hút của bóng đêm dày đặc, nhức mắt. Đồng hồ tích tắc chỉ hai giờ sáng. Đêm qua phát hiện những ngôi sao hiếm hoi xuất hiện trên bầu trời đầy khói bụi của thành phố náo nhiệt này, chị mở cửa ngắm sao rồi mơ màng ngủ quên mất.

Nhìn sang bên kia giường, chỗ đó vẫn trống trải như mọi đêm. Chiếc gối ngay ngắn, ga giường phẳng phiu. Hằng vốn kỹ tính, mọi thứ trong nhà luôn được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp. Nhưng cái kiểu giường chiếu tươm tất thế này là điều mà một phụ nữ có chồng như Hằng, không bao giờ mong muốn.

Tiếng thở dài vô thức thoát ra khỏi lồng ngực, như giải tỏa nỗi niềm, không tìm được thanh âm đồng cảm, bị màn đêm lặng lẽ nuốt chửng. Hằng trở dậy, tựa lưng vào thành giường, hai tay ôm đầu gối, để cả người chìm hẳn trong bóng tối, gặm nhấm nỗi cô đơn của chính mình. Vòng tay Hằng lạnh lẽo, không đủ sưởi ấm cái lạnh của tâm hồn, càng không thể đè nén được nhu cầu sinh lý đang thét gào bên trong.

Trong không gian tĩnh mịch ấy, văng vẳng tiếng hát vọng ra từ chiếc máy hát đĩa xưa cũ, khiến cho thanh âm càng thêm da diết, như cắt vào lòng người nghe trong đêm dài không ngủ:

Anh là chim bói cá
Em là bóng trăng ngà
Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa…

Không cần bước ra khỏi phòng, Hằng vẫn biết rõ chồng mình, người đàn ông đúng ra đang cùng chị mặn nồng trên chiếc giường xinh xắn này, giờ đang ở trong phòng sách, mơ màng chìm đắm trong thế giới của riêng anh ấy. Thế giới mà dù là vợ, hơn mười năm nay, Hằng chưa từng một lần chạm được vào.

Nỗi đau âm ỉ trong lồng ngực nhắc nhở Hằng, tình yêu của chồng chị mãi dành cho người khác. Theo thời gian, nó không hề phai nhạt mà còn khắc sâu thêm. Tình yêu ấy Hằng từng chứng kiến, từng ngưỡng mộ, từng mơ ước rằng sẽ có lúc mình có nó, nhưng hóa ra, chỉ là ảo tưởng của chị mà thôi.

***

Khi Hằng còn là cô bé mười lăm tuổi, chị trở thành người liên lạc của Minh – chồng chị bây giờ, và Nguyệt – chị họ của Hằng. Minh là dân Văn khoa Sài Gòn, anh yêu chị Nguyệt ngay lần đầu tình cờ gặp nhau, gọi hoa mỹ là tiếng sét ái tình.

Trong khi chị Nguyệt là thiên kim của gia đình tư sản Sài thành, thì Minh chỉ là một anh chàng tỉnh lẻ lên Sài Gòn học, bị nỗi lo cơm áo gạo tiền đè nặng, toàn bộ thời gian đều là đi học đi làm thêm, thời gian rảnh của anh ít ỏi như số tiền của anh vậy. Tuy nhiên, tình yêu Minh dành cho Nguyệt hoàn toàn ngược lại. Không thể hiện bằng vật chất thì Minh bù đắp bằng tinh thần. Văn thơ nhạc họa, vốn là tài sản của Minh, anh dành hết cho chị Nguyệt. Chị ấy trở thành nàng thơ trong mọi tác phẩm của anh.

Nhà Hằng mở một tiệm cà phê nhỏ, lúc nào rảnh, Minh đến say sưa sáng tác, khi là thơ, khi là truyện, khi là tranh. Có khi hoàn thành ngay, có khi vài ngày mới xong. Sau khi hoàn tất, Minh gói ghém cẩn thận, nhờ Hằng chuyển cho chị Nguyệt. Nhà chị ấy kín cổng cao tường, đi về có xe đưa đón, Minh khó có cơ hội gặp trực tiếp. Hằng là em họ của chị Nguyệt, ở gần nhà, dễ gặp chị ấy hơn.

Trừ những bức thư riêng tư, những tác phẩm Minh sáng tác cho chị Nguyệt, chị ấy đều cho Hằng xem. Rồi từ khi nào không biết, Hằng thuộc lòng hết thảy những bài thơ, tản văn, bức họa ấy. Vài dịp hiếm hoi, Minh nhờ Hằng hẹn chị Nguyệt ra ngoài đi dạo, ăn vặt. Khi đó, Hằng ngồi một bên nghe anh đàn hát tặng chị, say sưa đến mức quên mất việc mình phải rời đi để trả không gian cho riêng hai người. Có lẽ Minh và chị Nguyệt luôn xem Hằng như cô em gái nhỏ, nên đã quen với sự hiện diện của Hằng, ba người cứ vậy mà lang thang đường to ngõ nhỏ, cho đến khi phố xá lên đèn, Minh mới đưa hai chị em về. Không biết tự bao giờ, Hằng vô thức ngưỡng mộ Minh, ngưỡng mộ tình yêu đẹp đẽ của hai người.

Có lần chị Nguyệt về quê Minh ở Gia Lai chơi, khi về mang theo tấm tranh anh vẽ tặng. Tranh vẽ những con bướm sâu muồng màu vàng nhạt dịu dàng, con đậu con bay rợp cả bầu trời trong xanh, phía dưới là những cây cà phê khoe từng chùm hoa trắng muốt như tuyết. Ở góc hình, chị Nguyệt mặc váy hoa, đội chiếc nón trắng rộng vành, giơ tay chạm vào những cánh bướm, khuôn mặt rạng rỡ cười đón nắng. Hằng rất ấn tượng bức tranh này, bởi vì nó quá tình, quá thơ, đặc biệt là khuôn mặt xinh đẹp rạng ngời hạnh phúc của người thiếu nữ trong tranh. Lần đầu tiên sau tám năm làm cầu nối, Hằng thấy chạnh lòng, ngưỡng mộ pha lẫn ghen tỵ khi chị Nguyệt có được tình yêu ngọt ngào lãng mạn của Minh.

Khi mọi việc dường như thuận lợi, thì gia đình chị Nguyệt chuẩn bị làm thủ tục đi Mỹ. Chị Nguyệt không chịu đi, khóc rất nhiều, thuyết phục ba mẹ cho ở lại. Ba mẹ chị Nguyệt tận lực khuyên nhủ: “Con là đứa con duy nhất của gia đình, từ nhỏ đã được ông bà cha mẹ che chở. Ba mẹ sao có thể để con một mình ở lại. Vả lại, con có thể đảm bảo vẫn hạnh phúc khi cùng Minh sống cuộc sống ăn bữa nay lo ngày mai mà mình chưa từng trải qua hay không?”. Sau khi nghe phân tích thiệt hơn, dùng dằng thêm hai năm nữa, chị Nguyệt gói ghém tất cả kỷ vật của Minh cùng mình sang bên kia đại dương, cách anh nửa vòng trái đất.

Từ khi biết gia đình chị Nguyệt chuẩn bị đi định cư, Minh cật lực đi làm, hòng tích góp tiền bạc. Dù có nỗ lực, anh đâu thể nhanh chóng kiếm được tiền để đảm bảo cuộc sống bình thường đối với chị Nguyệt mà xa xỉ đối với anh. Minh không đủ tự tin yêu cầu chị Nguyệt ở lại cùng mình. Vào ngày chị Nguyệt đi, chỉ có Hằng đưa tiễn. Sau đó Hằng tìm thấy Minh say khướt quên trời quên đất trong một quán rượu nhỏ. Lúc đưa anh về, anh gọi đúng một chữ “Nguyệt”.

Hằng sợ Minh suy sụp. Trái lại, Minh chỉ say đúng một đêm đó, rồi bình tĩnh tiếp tục cuộc sống của mình. Thỉnh thoảng Minh biến mất một tuần hoặc nửa tháng, khi về mang cho Hằng ít quà đặc sản. Anh nói anh đi tìm cảm hứng sáng tác. Nhưng Hằng biết, anh đi trốn nỗi nhớ của mình.

Minh không cho Hằng cơ hội an ủi, Hằng chỉ biết lặng lẽ chăm sóc anh những chuyện vụn vặt thường ngày. Tuổi thanh xuân của Hằng cứ vậy trôi qua bên cạnh Minh, cam tâm tình nguyện. Dù có nhiều người theo đuổi, Hằng từ chối tất cả, vì trong tim đã chứa đầy hình bóng của Minh, nó đến tự nhiên như hơi thở. Có đôi lúc, Hằng nghĩ chỉ cần anh chịu ở gần mình là đủ.

***

Bên cạnh Minh không có người con gái nào khác. Thế là năm thứ năm sau khi chị Nguyệt đi, cũng là mười lăm năm kể từ ngày Hằng biết Minh, anh đồng ý cưới Hằng, khi Hằng ngỏ ý muốn bầu bạn cùng anh. Minh đồng ý là điều Hằng hy vọng nhưng không dám mong đợi, đến mức Hằng hoài nghi mình nghe nhầm. Khi khẳng định được đây là sự thật, Hằng quá vui mừng, bao nỗi nhớ nhung, dè dặt, đè nén bấy lâu được giải tỏa. Hằng vui đến mức lờ đi câu nói sau đó của anh: “Em đã suy nghĩ kỹ chưa? Hằng, là anh nợ em!”.

Sau này ngẫm lại, sự đồng ý nhanh chóng của Minh là vì cái gì. Vì anh muốn bù đắp tuổi thanh xuân trôi qua của Hằng, vì chị là người duy nhất níu giữ kỷ niệm của hai người họ, vì cái tên Hằng, dễ liên tưởng đến tên Nguyệt… Hằng không biết, cũng không muốn biết.

Hằng và chồng trong mắt mọi người là một đôi lý tưởng. Hai người có một bé trai rất giống anh, mới học lớp ba đã sớm bộc lộ năng khiếu văn nghệ của anh cùng sự nhiệt tình năng động của chị.

Minh sống có trách nhiệm với vợ con. Ngoại trừ những lúc đi tìm cảm hứng sáng tác, anh đều trở về nhà đúng giờ, chơi đùa cùng con, không la cà nhậu nhẹt. Minh không thích xã giao, dù vậy mỗi khi có đám tiệc cùng Hằng sóng đôi ra ngoài, anh đều vì chị mà hòa nhịp với mọi người, cho chị không ít mặt mũi. Những ngày sinh nhật lễ Tết, Minh chu đáo chuẩn bị quà cáp, cũng biết quan tâm hiếu kính với gia đình bên vợ. Đúng kiểu “chồng người ta” mà đồng nghiệp bạn bè chị hay trêu.

Chỉ có Hằng mới hiểu hết nỗi chua chát của mình. Hằng từng ôm hy vọng một ngày nào đó, Minh sẽ vì chị mà sáng tác, tặng cho Hằng một tác phẩm trong đó chị là nhân vật chính. Nhưng không! Tất cả những món quà anh chuẩn bị đều là quà mua từ bên ngoài, dù đắt đỏ, dù tinh tế đều không phải là sáng tác của anh. Suối nguồn cảm hứng của anh chưa bao giờ là chị.

Minh họa: Nguyễn Chơn Hiền

Minh cư xử chừng mực ở trước mặt mọi người, khiến ai cũng trầm trồ. Về nhà cũng thế, luôn “tương kính như tân”. Đôi khi Hằng ao ước hai người có thể tranh luận, cãi nhau, giận dỗi, dỗ dành như những cặp vợ chồng bình thường khác. Nếu Hằng nói ra điều này, chắc nhiều người sẽ mắt tròn mắt dẹt nói chị bị hâm, yên lành không muốn muốn cãi nhau đánh nhau à! Chỉ có Hằng mới hiểu, chị muốn cuộc sống của mình sinh động, có giai điệu, chứ không phải tẻ nhạt thế này. Hằng muốn nhìn thấy hình ảnh của mình trong mắt chồng, có thể cuồng nhiệt lao vào nhau, cảm nhận cơ thể của nhau. Nhưng không! Mười năm sống chung, Minh rất chừng mực, kể cả những lúc ở gần nhau nhất, chỉ như nhiệm vụ phải hoàn thành. Anh đâu biết rằng sau mỗi lần gần gũi ít ỏi đó, Hằng đều vùi mặt vào gối, để nước mắt lặng lẽ rơi.

***

Hôm nay Hằng nhận được cuộc gọi của ba mẹ chị Nguyệt, thông báo gia đình chị ấy sẽ về Việt Nam thăm quê hương. Nghe tin này, Hằng không biết cảm xúc của mình là gì. Mười lăm năm, kể từ ngày chị Nguyệt rời đi. Minh chưa từng một lần hỏi thăm tin tức của chị ấy. Chị Nguyệt cũng không hề hỏi han gì về anh. Hai người họ như muốn đối phương quên đi mình, cũng muốn mình quên đi đối phương. Chị Nguyệt thế nào Hằng không biết, chỉ biết rằng mười lăm năm chia xa, chồng chị, chưa bao giờ quên chị Nguyệt, cùng kỷ niệm của những ngày xưa.

Hằng báo với Minh ngày chị Nguyệt về nước, hai nhà sẽ cùng nhau ăn bữa cơm. Minh ngước nhìn Hằng, im lặng một lúc rồi trả lời: “Được. Em cứ sắp xếp đi”. Anh tỏ ra bình thản mà đáy mắt dậy sóng. Bao cảm xúc được anh đè nén bấy lâu, nay mãnh liệt trỗi dậy.

Ngày gặp mặt, không khí hai gia đình diễn ra khá thoải mái. Người lớn hỏi han chuyện trò, trẻ con chơi đùa cùng nhau. Hằng biết đó chỉ là bề ngoài, không ai trong số ba người họ, hoặc chí ít là Hằng và Minh, thật sự thoải mái như cách họ thể hiện.

Trên đường về, hai người đều trầm mặc. Sự im lặng như bao lần đi cùng nhau nhưng lần này Hằng thấy quá ngột ngạt. Dù hiện tại là vợ của Minh, nhưng đối diện với chị Nguyệt và anh, Hằng có cảm giác mình là người hèn mọn đi nhặt nhạnh những mảnh vỡ tình cảm của người khác.

Còn Minh, lúc gặp mặt anh chỉ dám nhìn thoáng qua Nguyệt, thấy người trước mặt tuy quen mà lạ. Trong ký ức của Minh, Nguyệt mãi là cô tiểu thư đài các của mười lăm năm về trước, còn Nguyệt bây giờ đã là một thiếu phụ quá tứ tuần. Anh bỗng thảng thốt, thì ra cái anh lưu giữ trong lòng chỉ là hồi ức, hiện thực đã khác xưa quá nhiều.

Về đến nhà, Minh vẫn như ngày thường chơi đùa cùng con đến khi bé ngủ. Hằng làm những việc vặt vãnh của mình. Lúc chuẩn bị đi ngủ, Hằng không kiềm được suy nghĩ mà bước đến phòng sách. Minh mở một ngọn đèn nhỏ, căn phòng mờ ảo ngập chìm trong bóng tối, chỉ thấy bóng lưng cô đơn của anh.

Những ngày sau đó gia đình chị Nguyệt đi đây đi đó chơi. Gia đình Hằng vẫn bình lặng như bao ngày khác. Chỉ có đôi mắt của Minh thâm quầng, và mùi khói thuốc trong phòng sách ngày càng nhiều. Hằng biết, Minh vì để ý đến suy nghĩ của Hằng mới ở nhà cho chị yên tâm. Bằng không, anh đã đi trốn ở góc nào đó, để giải tỏa cảm xúc của mình. Thấy anh như vậy, Hằng không biết nên vui mừng vì anh biết nghĩ đến cảm giác của chị hay nên xót xa vì mười lăm năm qua, trái tim của anh vẫn thổn thức vì người khác.

Gia đình chị Nguyệt trở về Sài Gòn một ngày cuối rồi bay về Mỹ. Hằng viện cớ bận việc không gặp. Phần vì sự gắng gượng khi gặp mặt khiến cho mọi người mệt mỏi, phần vì Hằng muốn thăm dò, xem chồng chị, sẽ làm gì trong ngày cuối cùng chị Nguyệt còn ở đây.

Tan làm, Hằng đón con trai rồi gửi bên nhà bạn, vội vàng đến quán cà phê trước khách sạn gia đình chị Nguyệt ở, ngồi đó. Thời gian chậm chạp trôi qua, tâm trạng của Hằng càng lúc càng rối bời. Lý trí nói với Hằng rằng, hãy về nhà đi, ngày hôm nay sẽ như mọi ngày của mười năm qua, mắt không thấy tâm không phiền. Nhưng cảm xúc trong lòng không như vậy, Hằng muốn tận mắt chứng kiến thái độ của người mà mình gọi là chồng khi gặp riêng người trong mộng.

Chín giờ tối, bóng dáng Minh xuất hiện trước khách sạn. Một lúc sau chị Nguyệt xuống, cùng anh ngồi ở sảnh. Trái tim Hằng như bị ai bóp chặt. Lúc này Hằng suy nghĩ, nếu họ cùng nhau đi nơi khác, vậy mình có đi theo hay không? Hằng không biết mình muốn hai người họ xảy ra chuyện gì? Và Hằng sẽ làm gì? Sẽ bắt quả tang, khinh thường nói: “À, hóa ra hai người đâu có thánh thiện gì, cũng đầy dục vọng thế thôi”.

Trái với sự căng thẳng của Hằng, hai người yên tĩnh ngồi đối diện nhau, giữ khoảng cách nhất định, cùng nhau thưởng trà, thong thả trò chuyện.

Mười một giờ, quán cà phê đóng cửa. Họ vẫn ngồi đó. Hằng tìm một chỗ khác khuất trên vỉa hè để tiếp tục nhìn mà không bị họ phát giác. Lúc này trông Hằng thật chật vật, muỗi mòng vo ve vây đốt, quần áo nhàu nhĩ vì kiểu ngồi lê lết bên đường, bụng đói kêu ục ục. Nhiều năm sau khi nhớ lại tình huống này, Hằng luôn khinh bỉ mình, vì đâu mà trở nên nhếch nhác như thế?

Nhưng hiện tại Hằng không nghĩ được nhiều như thế, chị vẫn dán mắt nhìn hai người.

Một giờ sáng, họ đứng dậy, bắt tay nhau. Sau đó, không có sau đó. Chị Nguyệt trở lên phòng khách sạn. Minh ra đường đón taxi về. Lúc này, đáng ra Hằng nên vui mừng vì anh vẫn chừng mực. Nhưng cảm giác tự ti tràn ngập lấy Hằng, khi chị ý thức được suy nghĩ của mình xấu xí thế nào, khi biết hai người họ vẫn giữ cho nhau một tình cảm trong sáng như thế. Và chắc rằng, những đêm dài sau này, khói thuốc trong phòng sách nhà chị vẫn lượn lờ bay ra, đêm thanh vắng vẫn nghe giọng hát nỉ non:

“Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa…”

Nghĩ đến đây Hằng thấy mệt mỏi, rã rời. Mà trên hết là cảm giác thất bại. Hai mươi lăm năm ở cạnh anh, mười bảy năm yêu anh, mười năm làm vợ anh. Tình yêu của Hằng, ban đầu, từng tràn đầy hy vọng như thế, mà giờ đây, héo hon như vầy.

Hằng cứ ngồi như vậy cho đến khi những tia nắng đầu tiên xuất hiện, đẩy màn đêm lùi về phía sau. Một ngày mới bắt đầu. Người người hối hả đi lại trong vòng quay cuộc sống của mình. Nếu không đứng lên và bước tiếp, Hằng sẽ là người bị bỏ lại bên đường, mục rỗng trong nỗi cay đắng của mình.

Hằng gọi điện nhờ bạn đưa con trai đi học, nhắn cho công ty xin nghỉ một ngày. Thật ngạc nhiên là lần đầu tiên trong nhiều năm qua, Hằng không lo nghĩ cho Minh nữa. Buổi sáng yên tĩnh khiến suy nghĩ trong đầu Hằng thông suốt.

Hằng vuốt tóc, chỉnh lại quần áo cho tươm tất. Tâm tình nhẹ nhõm, chị thong thả bước đi. Môi khẽ mỉm cười, nhìn nắng vàng ruộm chan hòa trên bầu trời cao vợi. Lâu rồi Hằng không thấy nắng đẹp đến vậy. Thì ra, buông tay mang lại cảm giác bình yên như thế.

***

Sau khi gặp Nguyệt, Minh về nhà vào phòng sách, đu đưa trên chiếc võng, nhớ lại bốn tiếng gặp mặt vừa rồi…
Vốn dĩ Minh không định gặp Nguyệt, cứ nhẫn nhịn như vậy đợi cô ấy về Mỹ, anh vẫn tiếp tục cuộc sống như mười lăm năm qua. Nhưng khi thời gian chỉ còn vài giờ, ý nghĩ từ nay không bao giờ gặp lại Nguyệt khiến tâm trạng anh nhấp nhổm. Lý trí không thắng nổi cảm xúc ở trong lòng, khi anh nhận ra mình đang làm gì, đã đứng trước khách sạn Nguyệt ở. Minh biết mình đi gặp Nguyệt mà không nói cho Hằng vợ anh biết là không nên, nhưng anh tự nhủ: “Mình chỉ gặp Nguyệt nói chuyện một lần thôi. Sẽ không làm gì có lỗi với Hằng. Giờ mà nói sợ cô ấy nghĩ ngợi rồi buồn lòng”.

Minh đến quầy lễ tân, đọc họ tên nhờ gọi điện lên phòng Nguyệt. Anh lo lắng không biết Nguyệt có đồng ý gặp mình hay không? Thật may là Nguyệt đồng ý, như thể Nguyệt cũng chờ cuộc gặp này. Lúc ngồi đợi Nguyệt xuống sảnh, lòng Minh hồi hộp không yên. Hơn mười phút chờ đợi mà anh thấy dài đằng đẵng.

Nguyệt bước xuống, nhẹ nhàng ngồi đối diện Minh, mỉm cười chào hỏi. Họ yên lặng một lúc lâu, lắng nghe cảm xúc của chính mình. Mười lăm năm không liên lạc, bao kỷ niệm xưa cũ, bao nhung nhớ về đối phương, tưởng rằng khi gặp lại sẽ là một cảnh long trời lở đất, cảm xúc dâng trào. Nhưng đó chỉ là Minh nghĩ mà thôi. Bởi vì, anh và Nguyệt không còn là họ của ngày xưa. Vì anh cố chấp giữ mãi trong lòng mới khiến chuyện xưa không trở thành chuyện cũ…

Cùng với tiếng kẽo kẹt của chiếc võng, những câu nói của Nguyệt lần nữa vang lên trong đầu Minh: “Em mượn lời của nhạc sĩ Vũ Thành An để nói với anh: Nếu chúng mình có thành đôi lứa. Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau”.

“Cuộc sống vợ chồng, chỉ trách nhiệm thôi chưa đủ. Tình yêu mới làm cho đối phương thấy mình được trân trọng, mình là duy nhất. Anh có cho Hằng cảm giác đó chưa?”.

“Nếu Hằng khóc vì anh, em thấy mình có lỗi. Hiện em rất hài lòng với cuộc sống của mình, cũng toàn tâm toàn ý cho gia đình nhỏ của em. Em luôn mong anh và Hằng hạnh phúc”.

Minh như đứa trẻ nhận lấy bài học đầu đời, tâm trạng rối bời. Sáng tinh mơ, anh để lại mảnh giấy dán ở cửa cho Hằng: “Anh đi ra ngoài một thời gian nhé!”. Bây giờ dù có điện thoại, có mạng di động, Minh và Hằng vẫn giữ cách gửi tin bằng giấy như thế. Vì Hằng từng nói, nhìn chữ thấy người.

Trốn đến một nơi yên tĩnh, Minh cẩn thận suy nghĩ lại mọi chuyện trong suốt mười năm vợ chồng. Bấy lâu nay Minh cứ nghĩ mình đã làm tròn trách nhiệm người chồng người cha. Lần này anh đứng ở góc độ của Hằng mà cảm nhận. Minh nhận ra rằng, thì ra anh quá lạnh nhạt với Hằng. Nhưng Hằng chưa hề trách cứ gì anh. Càng nghĩ Minh càng không biết nên đối diện với Hằng ra sao. Cứ lần lựa mãi, đến khi anh quyết tâm trở về, làm một người chồng đầy tình cảm để bù đắp cho Hằng đã là ba tuần sau đó.

Minh ghé cửa hàng, mua một bó hoa to, định bụng sẽ rủ Hằng ra ngoài ăn một bữa tối lãng mạn chỉ có hai người. Mang tâm trạng háo hức về nhà, bước vào trong anh thấy nhà tối om, cảm giác lạnh lẽo đánh tan tâm trạng vui tươi trước đó. Thoáng hốt hoảng, Minh gọi điện cho Hằng thì máy không liên lạc được.

“Đợi chút nữa chắc hai mẹ con sẽ về thôi”. Minh tự trấn an mình.

Bước vô phòng sách, Minh thấy tờ giấy để trên bàn. Cầm lên xem, là đơn ly hôn, phía dưới Hằng đã ký tên. Minh choáng váng, không tin vào mắt mình. Nhìn sang tờ giấy bên cạnh, Hằng viết ngắn gọn vài dòng:

“Anh! Em và con đi đây. Em sẽ sống cuộc sống của chính mình và chăm sóc con thật tốt. Khi ổn định em sẽ liên lạc để anh gặp con. Mong anh chăm sóc tốt cho bản thân và tìm được cuộc sống mà mình mong muốn. Em Hằng!”.

Không một lời trách móc, nhưng từng chữ cứ như mũi dao bén nhọn cứa vào tim anh. Anh có thể cảm nhận được, trái tim Hằng đã chết khi viết ra những lời này. Anh đã làm gì mà biến một cô gái đầy nhiệt huyết trở thành một người chết tâm thế kia. Giờ anh biết tìm hai mẹ con ở đâu?

Những ngày sau đó, Minh tìm đủ cách dò hỏi, nhưng không ai biết hai mẹ con đi đâu. Anh sợ hãi, sợ Hằng và con sẽ từ bỏ anh thật. Ông trời thật trêu ngươi, tại sao ngay lúc anh muốn làm lại từ đầu là lúc Hằng chọn cách buông tay?

***

Một năm trôi qua. Ba trăm sáu mươi lăm ngày quạnh vắng. Sống một mình trong căn nhà lạnh lẽo, Minh mới cảm nhận được nỗi buồn mà Hằng chịu đựng suốt mười năm qua. Không hơi ấm, không tiếng nói cười, mỗi tối anh về không còn thấy mâm cơm nóng hổi trên bàn ăn. Lúc có thì thấy bình thường, giờ Minh mới biết, công việc của Hằng bận rộn như vậy, vợ anh phải vất vả thế nào mới có thể làm những bữa cơm tối như thế.

Ngày cuối tuần càng trống trải. Trước đây có thời gian rảnh Minh đi ra ngoài tìm cảm hứng sáng tác. Giờ có quá nhiều thời gian, anh không muốn đi đâu. Quanh quẩn trong nhà, cảm nhận một ngày trôi qua buồn chán biết bao. Minh trách mình cứ đắm chìm trong hồi ức mà bỏ quên hiện tại, đến lúc tỉnh ngộ thì hiện tại đã thành quá khứ mất rồi.

Một năm xa Hằng, Minh mới biết mình nhớ vợ nhiều như vậy. Những việc vụn vặt bình thường không để ý, khi mất đi rồi, như dòng suối tuôn chảy trong miền ký ức của anh. Mỗi khi nhớ Hằng, Minh lao vào vẽ. Gom góp lại, số tranh đầy cả phòng. Minh tự giễu mình, hai mươi lăm năm quen biết, mười năm vợ chồng, anh chưa vẽ cho Hằng bức tranh nào. Đợi khi Hằng bỏ đi, anh vẽ nhiều thế để làm gì…

***

Vào một ngày nắng đẹp, ở một nơi xa xôi, Hằng tranh thủ thời gian lướt xem tin tức trong nước. Hằng ngạc nhiên, tay khựng lại, bởi vì đập vào mắt chị là một bức tranh vẽ chị, đang ngồi cắm hoa trước hiên nhà mình. Nhìn lại thấy tiêu đề bài viết, triển lãm tranh cá nhân chủ đề “10 năm làm Vợ”. Con số mười năm, rồi hình của Hằng hiển hiện trước mắt, khiến tim chị đập rộn lên, “chẳng lẽ là…”, “không thể nào…”.

Hằng nhấp chuột mở nội dung chi tiết, chăm chú xem từng bức ảnh người viết chụp lại. Tất cả đều là hình của Hằng với những sinh hoạt thường ngày: chị mặc tạp dề thái rau trong bếp, chị làm bánh sinh nhật tặng con trai, chị tưới nước cho khóm tường vi trước nhà, chị ôm chú mèo ngồi tắm nắng, chị nhíu mày nhìn chiếc máy giặt đình công, chị dán tờ ghi chú lên cánh cửa chi chít giấy dán trước đó…

Bức ảnh cuối vẽ bóng lưng quen thuộc của người họa sĩ ngồi trước giá vẽ, trên đó để bức tranh một nhà ba người ôm nhau trên bãi cỏ, nhan đề “Chờ sum vầy”. Hằng thấy mắt mình ươn ướt. Đến khi đọc câu kết của bài viết: “Chắc rằng tác giả đã dành cho vợ rất nhiều tình cảm cùng sự nhớ nhung mới có thể khắc họa được chân dung của chị một cách bình dị mà chân thực như thế!”, nước mắt của chị chảy đầy gương mặt. Nhưng khóe miệng cong lên nụ cười mãn nguyện.

HOÀNG NGỌC THANH

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Tường ảo

Bức tường tối đen. Tôi có thể cảm nhận qua tiếng còi xe. Có ba mặt tường. Bên ngoài mỗi mặt là một thế giới khác nhau. Mặt vẽ hình đầu người là một trong ba bức tường ấy…

Cây cô đơn

Cây cô đơn có tự bao giờ và vì sao người ta gọi là cây cô đơn. Chắc có lẽ, cây cũng như người, khi đơn lẻ, cô độc giữa thế gian rộng lớn thì cũng chỉ như một minh chứng về sự hiện hữu…

Tấm áo Điện Biên

Cha mang trên mình tấm áo Điện Biên
Áo trấn thủ với bao đường ngang dọc
56 ngày đêm lấn từng thước đất
Xẻ dọc chiến hào siết chặt vòng vây.