Về thương vườn cũ

(VNBĐ – Tản văn). Lâu rồi tôi chưa về khu vườn nhà ngoại. Nơi đây là cả khoảng trời thơ dại nên nỗi nhớ trong tôi càng thêm cồn cào, da diết. Nay, tôi có dịp trở về tìm lại dấu xưa, tìm những ký ức ngọt ngào cho thỏa niềm mong nhớ. Lòng tôi cứ rưng rưng, bùi ngùi, buồn vui lẫn lộn khi đứng trước vườn xưa chốn cũ.

Nhà tôi ở kiệt trên, ông bà ngoại ở kiệt dưới, khoảng cách không xa lắm. Thời bao cấp, ba má đi làm công điểm cho hợp tác xã, cứ sáng dẫn con về gửi ông bà trông chừng rồi lo luôn chuyện cơm nước cho các cháu, chiều tối ba má đón về. Lớn hơn một chút, tôi tự dắt mấy đứa em về ngoại, chiều trở về nhà mình. Cứ thế, sống ở nhà ngoại suốt cả tuổi thơ nên từng người thân, cảnh vật, đặc biệt là khu vườn đã gắn bó cùng tôi thân thiết, với biết bao kỷ niệm khó phai mờ.

Khu vườn rộng, trồng nhiều cây ăn trái. Xung quanh là hàng rào dâm bụt và những cây duối cằn cỗi lâu đời, cho trái chín vàng mọng nước, để bọn trẻ tha hồ hái đựng đầy túi áo. Góc ngã ba đường, có bụi tre già tỏa bóng che mát chuồng bò. Kế bên là cây bồ kết nhiều gai nhọn, quả chín đen từng chùm lủng lẳng. Cây vú sữa cao lớn sát cạnh mái hiên, trái rất sai và căng bóng màu xanh pha tím. Nhiều nhất trong vườn là những cây ổi, khi chín sẽ có ruột vàng hoặc đỏ, hương thơm ngào ngạt khắp vườn. Loại ổi truyền thống ngày xưa, cây cao, trái nhỏ nhưng rất sai. Trưa nào bọn trẻ cũng trèo lên thăm dò xem trái đã ăn được chưa. Nhớ lại vỏ ổi đầy dấu bấm móng tay mà càng thương một thời tuổi nhỏ! Thỉnh thoảng cậu, dì còn hái sẵn cho bọn cháu và nhắc nhở, sợ trèo leo té ngã. Cậu Mười có kinh nghiệm quan sát trái chín ở trên cao, rồi dùng cây sào tre có đan rọ ở phía trên để khèo hái. Cách làm này rất an toàn, hiệu quả bởi khi vú sữa, xoài, mận, mãng cầu… rơi vào rọ sẽ không bị dập nát.

Khu vườn rợp bóng cây xanh, có chiếc xích đu được cột chắc chắn từ cành cây vú sữa. Sớm trưa tha hồ đung đưa từng nhịp võng đều đều, vui vui. Ông ngoại mắc chiếc võng cước từ gốc cây ổi kéo qua khung cửa sổ bên hiên nhà để nằm nghỉ mát, rồi thường đọc ngâm nga mấy câu: “Có người ở quận Đông Thành/ Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền/ Đặt tên là Lục Vân Tiên/ Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành”. Ông ngoại mê truyện Lục Vân Tiên và thuộc nhiều lắm. Tôi nghe riết thành quen chớ hồi nhỏ cũng chưa biết nhân vật đó như thế nào. Ông bảo, cứ cố gắng học hành về sau sẽ rõ, rồi đọc tiếp: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Còn bà ngoại thì không đọc như ông mà hát ru ầu ơ đưa cháu, dỗ dành hết đứa này đến đứa khác ngon giấc ngủ say. Dưới tán cây râm mát, lời ru của bà lúc nửa buổi sớm mai, khi giữa trưa tròn bóng hoặc non buổi xế chiều, cứ mãi theo tôi đi qua năm tháng. Tiếng ru của bà ngọt ngào êm ái, lúc thì da diết nhớ nhung: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”, “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ người áo trắng khăn điều vắt vai”; khi thì như nhắc nhở điều gì đó xa xôi: “Chiều chiều mây phủ Đá Bia/ Đá Bia mây phủ chị kia lấy chồng/ Lấy chồng cho đáng tấm chồng/ Bõ công trang điểm má hồng phấn son”; cũng có khi là lời cảm thán, hờn dỗi: “Thương chi cho uổng công tình/ Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ”, “Trời mưa lộp bộp lá dừa/ Bộp anh ít bộp cho chừa đi đêm”. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì nên cứ hỏi bà đủ thứ chuyện. Lời ru của bà, câu thơ ông đọc, cứ như những ngọn gió, những giọt mưa tươi mát làm nảy nở trong tôi hạt mầm yêu thích văn chương từ nhỏ.

Tôi thích nhất là khu vườn vào độ xuân sang, hè đến. Đi qua mùa đông mưa dầm gió Bấc, khu vườn không còn xác xơ, ướt át mà hồi sinh mạnh mẽ. Vườn ủ men ủ mật, bắt đầu bật mầm xanh lá, tươi cây. Mùi chồi non lộc biếc, mùi của hoa trái sực nức bung hương quyện vào làn gió, gọi mời bướm ong bay về tìm mật, gọi đàn chim rủ nhau về dựng nhà xây tổ. Chim quành quạch, se sẻ, chào mào, chim sắt, chim sâu và nhiều loài khác nữa cùng về đây tụ hội. Chúng chuyện trò, đùa vui, đuổi nhau, rồi kêu ré lên làm xôn xao cả một góc vườn. Thích nhất là nghe tiếng hót của chào mào, tiếng gáy của cu cườm, cu lửa giữa vườn trưa yên vắng. Sau chuỗi ngày mưa ẩm ướt, trong làn hơi sương se lạnh, những tia nắng ấm áp sớm mai vừa chiếu rọi là nghe tiếng chổi rẹt rẹt của bà. Bà lượm những cành củi gãy, xếp vào mé hiên hoặc mang vào bếp, quét lá dồn vào góc vườn để đốt. Lạ thay, khói đốt lá cây trong vườn không hề khét mà có mùi thơm của tinh dầu thảo mộc, có mùi âm ẩm của lá ướt sương đêm. Những thứ mùi của cây cỏ, của đất, của vườn quê, của cả miền tuổi thơ ký ức cứ thỉnh thoảng lại dậy lên rồi mơn man vỗ về tâm hồn tôi.

Tôi đứng lặng hồi lâu trước khu vườn tuổi nhỏ, dấu xưa đã phai mờ. Ông bà nay về miền mây trắng mênh mông. Cậu, dì cũng chuyển đi nơi khác định cư, sinh sống nên khu vườn trống vắng biết bao. Biết tìm đâu chái bếp, mái hiên, hàng ba, bậc cửa, góc sân, vườn cây, bóng người… Chỉ còn giếng nước bên cạnh gốc cau già, nơi ông ngoại đứng tắm và kì lưng vào thân cau. Lòng tôi như chùng lại, tôi mơ hồ nghe tiếng chổi rẹt rẹt của bà, tiếng rựa chẻ tre đan rổ của cậu, tiếng rộn ràng của con cháu mỗi khi giỗ, Tết. Ước gì lòng người như giếng nước mãi ngọt lành khi biết sẻ chia. Ước gì cậu tôi trở về cải tạo khu vườn cũ, xây ngôi nhà mới trên nền đất xưa để khu vườn xanh mát, thơm hương ổi chín, ríu rít tiếng chim, rộn ràng tiếng con cháu!

PHAN HUY THÙY

Từ khóa liên quan:

Chia sẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Thơ dự thi của Khét

Thóc, vì sao chọn vàng
– tôi làm nên no ấm
cỏ, vì sao chọn xanh
– không đành nhìn đất bạc

Hương dừa

Đêm, trăng thượng tuần nấp sau gốc dừa. Những tàu dừa lòa xòa đung đưa làm ánh trăng vỡ vụn nhưng cũng đủ sáng trên con đường. Ngày mai tôi sẽ xa Y Muôn, xa mảnh đất này…