Thương bấy ca dao
“Chợ chiều nhiều khế ế chanh”
Em gom hết đắng cho anh ngọt ngào
Những gì thương, những gì đau
Chất lên chật cả con tàu thiêng liêng
“Chợ chiều nhiều khế ế chanh”
Em gom hết đắng cho anh ngọt ngào
Những gì thương, những gì đau
Chất lên chật cả con tàu thiêng liêng
Ta giờ nhớ nhớ quên quên
Gặp nhau bạn hỏi: biết tên là gì?
Tên là… xin nhắc giùm đi
Chơi trò “đánh đố” có gì vui đâu!
Đừng hỏi tuổi
Ta không có tuổi
Ta là dòng sông tâm tưởng bốn mùa
Ta là ngọn gió mát lành có khi là cơn bão
Năm ấy tôi về Lương Lộc
Máy bay địch lượn trên đầu
Gặp lại ngôi làng thân thiết
Hoang tàn xao xác niềm đau
Ngày xưa dân giúp bố
“đi chợ giùm” bao năm
Giờ con lại giúp dân
Đi chợ mùa “giãn cách”
Ta sinh ra vốn là chiếc lá
xanh hết mình cho tất cả tháng năm xanh
lúc tàn úa (ta biết rằng không thể khác)
Không phải đến để yêu mà để cho ta biết tâm linh là có thật
Không phải đến để làm vợ chồng mà để cùng ta lau nước mắt
Những huyền diệu đi qua thoáng chốc
Để lại bao nhiêu trầm tích gập ghình
Hạ lời nguyền đi cứu độ chúng sinh
Khi nào tắt lửa chiến tranh
Mẹ sẽ trở về bên con của mẹ
Vậy mà ngót trăm năm dâu bể
Năm xưa những người giữ chốt
hy sinh trên đỉnh đồi
bởi địch tấn công bằng bom, súng trường và Rốc-két

“Giết tiếng khóc con để cứu dân làng”, đó là âm vọng trong trái tim đau đớn của người mẹ và đó cũng là âm vọng xuyên suốt bài thơ “Chuyện kể dưới chân Hòn Kẽm Đá Dừng”…

(VNBĐ – Thơ). Ba bề núi, trước mặt là biển bên trái có ngọn núi uy nghi – vị “Tả tướng” đứng chầu. Tàu “Hy vọng”(*) của Tây đã cháy lâu rồi sóng Nhật Tảo đã lặng yên chôn sâu mộng xâm lăng của giặc

(VNBĐ – Hồi ký). Một buổi sáng mùa hè ba mươi năm trước, gió biển Quy Nhơn trong lành mát rượi, tôi đang đứng hít thở và tư lự trên vỉa hè rộng, trước ngôi nhà cũ kỹ tôi đang ở, thì thấy có một



“Chợ chiều nhiều khế ế chanh”
Em gom hết đắng cho anh ngọt ngào
Những gì thương, những gì đau
Chất lên chật cả con tàu thiêng liêng
Ta giờ nhớ nhớ quên quên
Gặp nhau bạn hỏi: biết tên là gì?
Tên là… xin nhắc giùm đi
Chơi trò “đánh đố” có gì vui đâu!
Đừng hỏi tuổi
Ta không có tuổi
Ta là dòng sông tâm tưởng bốn mùa
Ta là ngọn gió mát lành có khi là cơn bão
Năm ấy tôi về Lương Lộc
Máy bay địch lượn trên đầu
Gặp lại ngôi làng thân thiết
Hoang tàn xao xác niềm đau
Ngày xưa dân giúp bố
“đi chợ giùm” bao năm
Giờ con lại giúp dân
Đi chợ mùa “giãn cách”
Ta sinh ra vốn là chiếc lá
xanh hết mình cho tất cả tháng năm xanh
lúc tàn úa (ta biết rằng không thể khác)
Không phải đến để yêu mà để cho ta biết tâm linh là có thật
Không phải đến để làm vợ chồng mà để cùng ta lau nước mắt
Những huyền diệu đi qua thoáng chốc
Để lại bao nhiêu trầm tích gập ghình
Hạ lời nguyền đi cứu độ chúng sinh
Khi nào tắt lửa chiến tranh
Mẹ sẽ trở về bên con của mẹ
Vậy mà ngót trăm năm dâu bể
Năm xưa những người giữ chốt
hy sinh trên đỉnh đồi
bởi địch tấn công bằng bom, súng trường và Rốc-két

“Giết tiếng khóc con để cứu dân làng”, đó là âm vọng trong trái tim đau đớn của người mẹ và đó cũng là âm vọng xuyên suốt bài thơ “Chuyện kể dưới chân Hòn Kẽm Đá Dừng”…

(VNBĐ – Thơ). Ba bề núi, trước mặt là biển bên trái có ngọn núi uy nghi – vị “Tả tướng” đứng chầu. Tàu “Hy vọng”(*) của Tây đã cháy lâu rồi sóng Nhật Tảo đã lặng yên chôn sâu mộng xâm lăng của giặc

(VNBĐ – Hồi ký). Một buổi sáng mùa hè ba mươi năm trước, gió biển Quy Nhơn trong lành mát rượi, tôi đang đứng hít thở và tư lự trên vỉa hè rộng, trước ngôi nhà cũ kỹ tôi đang ở, thì thấy có một
TẠP CHÍ VĂN NGHỆ GIA LAI ĐIỆN TỬ
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH GIA LAI
Tổng biên tập: Trần Quang Khanh
Giấy phép hoạt động tạp chí in và tạp chí điện tử số 17/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 13.01.2023
Tòa soạn: 103 Phan Bội Châu, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai
Điện thoại: 02563.822167 – 02563.822187
Email: vannghegialaidientu@gmail.com
Bản quyền thuộc về tạp chí Văn nghệ Gia Lai